Trang chủ · Thư viện · Hiếm muộn
Dính buồng tử cung có mang thai được không?

Tóm tắt nhanh
- Dính buồng tử cung vẫn có thể mang thai sau khi gỡ dính. Phân tích gộp 32 nghiên cứu (2023): khoảng 59% có thai và 45,6% sinh sống sau nội soi gỡ dính.
- Mức độ quyết định cơ hội. Nghiên cứu 104 phụ nữ: có thai ở 81,5% nhóm nhẹ, 61,3% nhóm vừa, 20% nhóm nặng.
- Kẻ phá kế hoạch là tái dính: 30–66% ca, càng nặng càng dễ. Vì vậy sau mổ gần như luôn có bước chống tái dính và nội soi kiểm tra lại.
- Thai kỳ sau đó cần theo dõi nhau bám: nhau cài răng lược khoảng 7–10%, cao hơn dân số chung.
- Nội soi buồng tử cung là tiêu chuẩn chẩn đoán; siêu âm thường dễ bỏ sót. Điều trị do bác sĩ sản phụ khoa hoặc hiếm muộn quyết định.
Dính buồng tử cung có mang thai được không?
Có, nhưng cơ hội phụ thuộc vào mức độ dính, vào việc gỡ dính có thành công và buồng tử cung có được giữ không dính lại hay không. Dính nhẹ, gỡ xong buồng thông, kinh trở lại: phần lớn có thể có thai tự nhiên hoặc với hỗ trợ sinh sản. Dính nặng, buồng gần như bít kín: cơ hội thấp hơn hẳn và thường cần nhiều lần nội soi.
Tổng quan của Dreisler và Kjer (2019) ghi nhận tỷ lệ có thai sau nội soi gỡ dính dao động rất rộng, 25–76%, tuỳ nghiên cứu và mức độ. Phân tích gộp của Xu và cộng sự (Frontiers in Endocrinology, 2023), 32 nghiên cứu với 3.817 phụ nữ, cho con số trung bình: 58,97% có thai; trong 23 nghiên cứu theo dõi tới lúc sinh, 45,56% sinh sống. Gần một nửa số phụ nữ đã gỡ dính có em bé. Không phải tất cả, nhưng không phải "hết hy vọng".
Bài này nói về cơ hội có thai và cách điều trị. Nếu chưa chắc mình có dính hay không, đọc trước bài dính buồng tử cung sau nạo hút: dấu hiệu nhận ra.
Vì sao dính cản trở thụ thai?
Niêm mạc tử cung mọc lại mỗi tháng từ một lớp đáy. Nạo, hút thai, nạo sót nhau sau sinh hoặc sau sảy, nhất là khi có nhiễm trùng, có thể làm tổn thương lớp đáy này; hai mặt thành tử cung bị thương áp vào nhau và dính thành dải hoặc mảng xơ (hội chứng Asherman).
Dính cản trở thụ thai theo ba đường: buồng hẹp hoặc bít một phần nên tinh trùng khó lên, phôi khó có chỗ làm tổ; lỗ vòi trứng có thể bị che; và niêm mạc vùng dính không mọc lại, nên mỏng, không "chín" để đón phôi. Kinh ít hẳn hoặc mất kinh sau thủ thuật là dấu hiệu gợi ý sớm nhất (kinh nguyệt không đều: khi nào là dấu hiệu bệnh lý). Niêm mạc mỏng kéo dài sau thủ thuật cũng là lý do để tìm dính (nội mạc tử cung mỏng có thai được không).
Phân độ: nhẹ, vừa, nặng là thế nào?
Hướng dẫn chung AAGL và ESGE (2017) khuyến nghị phải phân độ vì tiên lượng đi theo mức độ, nhưng chưa thang nào được chứng minh tốt hơn hẳn. Hai thang hay gặp:
- Thang AFS 1988 (Hội Sinh sản Hoa Kỳ): chấm điểm ba yếu tố khi nội soi: phần buồng bị dính, loại dính (mỏng hay dày) và kiểu kinh nguyệt. Tổng điểm 1–4 là nhẹ, 5–8 là vừa, 9–12 là nặng.
- Thang ESGE (châu Âu): độ 1 là dải dính mỏng dễ tách, độ 5 là dính dày lan rộng kèm mất kinh. Trong 638 phụ nữ của Hanstede và cộng sự (Fertility and Sterility, 2015), nạo hút ở ba tháng đầu thai kỳ thường cho dính độ 1–2, thủ thuật sau sinh thường cho độ 3–5.
Mức độ chỉ xác định được khi nội soi. Kinh ít không đồng nghĩa dính nặng; kinh gần bình thường cũng không loại trừ dính một phần.
Có thai được bao nhiêu phần, theo mức độ?
Dữ liệu theo mức độ chủ yếu từ nghiên cứu một trung tâm, số ca nhỏ, nên chênh lệch giữa các nơi khá lớn:
| Nghiên cứu | Số phụ nữ | Nhẹ | Vừa | Nặng |
|---|---|---|---|---|
| Zhao J và cộng sự, Arch Gynecol Obstet 2017 (có thai lâm sàng) | 104 | 81,5% | 61,3% | 20,0% |
| Bhandari và cộng sự, J Reprod Infertil 2015 (có thai) | 60 | 53,3% | 26,9% | 9,5% |
Hai nghiên cứu dùng thang và thời gian theo dõi khác nhau nên không so trực tiếp. Sinh sống theo từng mức chưa được báo cáo đầy đủ: Zhao 2017 sinh sống chung 39,4%; Bhandari 2015 có 10 ca sinh sống trong 60 phụ nữ.
Điểm chung: nhóm nhẹ có thai nhiều gấp 4–5 lần nhóm nặng. Nghiên cứu của Zhao X và cộng sự (Annals of Translational Medicine, 2020) trên 380 phụ nữ dính vừa và nặng, theo dõi 2–3 năm: 56,6% có thai, khoảng 49% sinh sống; nhóm vừa và nặng ban đầu có thai gần như nhau (57,5% so với 55,5%), nhưng người còn dính sau mổ hoặc phải mổ từ 2 lần trở lên có thai ít hơn rõ rệt.
Yu và cộng sự (Fertility and Sterility, 2008), 85 phụ nữ ở Bắc Kinh, thấy điều tương tự: khi nội soi kiểm tra lại sau 3 tháng, nhóm buồng tử cung bình thường có thai 59,1%, nhóm dính tái phát chỉ 11,8%; nhóm vẫn mất kinh sau mổ có thai 18,2% so với 50% ở nhóm kinh trở lại. Cơ hội không nằm ở con số phân độ ban đầu bằng ở việc buồng tử cung có được giữ thông sau điều trị hay không.
Vì sao dễ tái dính?
Sau khi cắt dính, hai mặt vết thương mới lại áp sát nhau, trong khi lớp đáy niêm mạc ở đó đã mất nên không có mô mới phủ kịp. Hướng dẫn AAGL/ESGE ghi nhận tái dính ở 30–66% ca: tới một phần ba ở dính nhẹ và vừa, khoảng hai phần ba ở dính nặng.
Số liệu lớn nhất là của Hanstede (2015), 638 phụ nữ tại một trung tâm chuyên sâu ở Hà Lan, tất cả được nội soi kiểm tra lại sau khoảng 8–10 tuần:
| Độ dính ban đầu (ESGE) | Tái dính tự phát |
|---|---|
| Độ 1–2A | 20,8–25,0% |
| Độ 3 | 29,1% |
| Độ 4 | 38,5% |
| Độ 5 | 41,9% |
Nguồn: Hanstede và cộng sự, Fertil Steril 2015;104(6):1561–1568. Tái dính chung 174/606 ca điều trị thành công (28,7%); mức độ ban đầu và tuổi là hai yếu tố liên quan.
Cũng trong nhóm này, lần nội soi đầu khôi phục buồng tử cung ở 80,3%; số còn lại cần lần hai (thành công 70,2%) hoặc lần ba. Tính chung 95% đạt buồng bình thường, 97,8% có kinh trở lại. Đây là kết quả ở trung tâm làm nhiều ca; nơi khác có thể thấp hơn.
Thai kỳ sau gỡ dính cần theo dõi gì?
Thai kỳ sau gỡ dính có nguy cơ riêng, chủ yếu ở bánh nhau, vì niêm mạc vùng từng dính mỏng và sẹo, nhau có thể bám sâu vào cơ tử cung.
- Nhau cài răng lược. Phân tích gộp Xu 2023 (20 nghiên cứu, 957 phụ nữ): khoảng 7% (khoảng tin cậy 4–11%). Tổng quan Guo 2019 (54 nghiên cứu): 10,1%, cao hơn 10 lần dân số chung. Nghiên cứu so sánh của Feng (2020), 146 phụ nữ sinh ở ba tháng cuối sau gỡ dính so với 292 người đối chứng: nhau bám bất thường 33,6% so với 2,7%, sót nhau 42,5% so với 8,6%, băng huyết sau sinh 8,9% so với 1,0%; dính nặng nguy cơ cao hơn.
- Nhau tiền đạo. Xu 2023, gộp 3 nghiên cứu có đối chứng: cao gấp khoảng 3,3 lần.
- Sinh non. Bằng chứng chưa thống nhất. Loạt ca cũ sau nong nạo gỡ dính ghi nhận 9% (50/559 thai kỳ, trích trong hướng dẫn AAGL/ESGE); Zhao X 2020 có 5 ca sinh non trong 215 thai kỳ; Feng 2020 không thấy khác biệt về tuổi thai và cân nặng, nhưng chỉ tính ca sinh ở ba tháng cuối.
- Sảy thai sớm khoảng 17,7% (Guo 2019), không cao hơn nhiều mức nền. Thai chậm tăng trưởng, tiểu đường và tăng huyết áp thai kỳ chưa thấy khác biệt rõ.
Chỉ 3 trong 32 nghiên cứu của phân tích gộp 2023 có nhóm đối chứng, nên "cao hơn dân số chung" là ước lượng. Điều chắc là bác sĩ sản khoa cần biết tiền sử gỡ dính ngay từ lần khám thai đầu để siêu âm đánh giá vị trí, độ bám của nhau và lên kế hoạch sinh.
Chẩn đoán: siêu âm, bơm nước hay nội soi?
Theo AAGL/ESGE 2017, nội soi buồng tử cung là tiêu chuẩn: thấy dính, phân độ và có thể gỡ ngay trong cùng một lần. Các phương pháp khác để sàng lọc:
- Siêu âm đầu dò 2D: độ nhạy khoảng 52%, gần một nửa ca dính bị bỏ sót. Siêu âm "bình thường" không loại trừ dính.
- Siêu âm bơm nước buồng tử cung: độ nhạy khoảng 75%, giá trị tiên đoán âm khoảng 98% (Dreisler 2019): bơm nước thấy buồng thông thì khả năng dính thấp. Nhưng dương tính giả không ít (tiên đoán dương khoảng 43%), nên nghi ngờ vẫn phải nội soi.
- Chụp tử cung vòi trứng (HSG): độ nhạy 75–81%, dương tính giả tới 39%; ưu điểm là xem được vòi trứng cùng lúc.
- Cộng hưởng từ: không khuyến nghị để chẩn đoán dính ngoài nghiên cứu.
Có tiền sử nạo hút kèm kinh ít đi, hoặc IUI/IVF thất bại mà chưa từng nội soi buồng tử cung: đây là câu nên hỏi bác sĩ.
Điều trị: bác sĩ quyết định gì, theo thứ tự nào?
Phác đồ do bác sĩ quyết định theo mức độ dính, tuổi, mong muốn có con và các yếu tố khác. Khung chung theo AAGL/ESGE 2017 gồm bốn phần:
- Nội soi gỡ dính dưới quan sát trực tiếp. Phương pháp được khuyến nghị cho dính có triệu chứng; nong nạo "mù" không có bằng chứng ủng hộ. Biến chứng chính là thủng tử cung, khoảng 2,5% ở lần mổ đầu trong nhóm Hanstede, cao hơn ở các lần sau.
- Chống tái dính ngay sau mổ. Hướng dẫn xếp: đặt tạm một dụng cụ trong buồng (vòng trơ, bóng hoặc ống thông) để hai thành không áp vào nhau, bằng chứng mức A về giảm tái dính; gel chống dính, mức A về giảm tái dính nhưng chưa rõ hiệu quả lên tỷ lệ có thai; liệu pháp nội tiết giúp niêm mạc mọc lại, mức B. Thuốc tăng tưới máu, kháng sinh dự phòng, tế bào gốc chưa đủ bằng chứng. Chọn biện pháp nào, kết hợp ra sao, bao lâu là việc của bác sĩ.
- Nội soi kiểm tra lại (mức B), thường sau vài tuần đến vài tháng, để gỡ sớm dính mới khi còn mỏng. Dreisler 2019 trích một nghiên cứu 151 phụ nữ: soi lại sớm đi kèm tỷ lệ có thai tích luỹ 77% so với 56%. Dính nặng có thể cần 2–3 lần gỡ.
- Thử thai khi được phép, thường sau khi lần soi kiểm tra cho thấy buồng thông và kinh đã trở lại; rồi cố gắng tự nhiên một thời gian hoặc chuyển sang hỗ trợ sinh sản tuỳ tuổi (IUI và IVF khác nhau thế nào).
Hướng dẫn cũng nêu: không điều trị vẫn có thể có thai, nhưng thời gian chờ có thể kéo dài. Với người vợ từ 35 tuổi, thời gian là thứ không nên mất.
Phía chồng: tinh dịch đồ ngay từ đầu
Dính buồng tử cung là nguyên nhân rõ ràng, nên nhiều cặp dồn hết chú ý vào người vợ. Nhưng một thai kỳ sau gỡ dính là cơ hội không nên để lỡ vì tinh trùng yếu chưa được phát hiện. Tinh dịch đồ chuẩn WHO 2021 mất một buổi, nên làm song song với giai đoạn vợ chẩn đoán. Xem khám hiếm muộn: hai người khám gì và đọc kết quả tinh dịch đồ.
Làm ngay: bốn việc đo được
- Ghi lịch kinh từng tháng sau thủ thuật: ngày bắt đầu, số ngày, lượng (số băng mỗi ngày so với trước). Kinh ít rõ hoặc mất kinh từ 2 chu kỳ là lý do đi khám, không chờ đủ 12 tháng.
- Xin bản ghi nội soi nếu đã gỡ dính: thang nào, điểm bao nhiêu, buồng có thông hết sau mổ không, có thấy hai lỗ vòi trứng không. Đây là số liệu quyết định tiên lượng.
- Ghi mốc nội soi kiểm tra lại và không bỏ lịch. Gần 20% trong nhóm Hanstede cần lần mổ thứ hai; bỏ soi lại là bỏ cơ hội gỡ dính mới khi còn mỏng.
- Chồng làm tinh dịch đồ trong 4 tuần kể từ khi vợ được chẩn đoán, kiêng xuất tinh 2–7 ngày trước khi lấy mẫu.
Câu nên hỏi bác sĩ
- Dính của tôi ở mức nào, theo thang nào, và điều đó thay đổi gì về cơ hội có thai?
- Sau mổ dùng biện pháp chống tái dính nào, trong bao lâu, khi nào soi kiểm tra lại?
- Khi nào tôi có thể thử thai, và thử tự nhiên bao lâu trước khi tính tới hỗ trợ sinh sản?
- Nếu có thai, cần siêu âm gì để kiểm tra nhau bám, và nên sinh ở đâu?
Khi nào cần đi khám?
Đi khám sớm, không chờ mốc 12 tháng, khi: kinh ít hẳn hoặc mất kinh từ 2 chu kỳ sau nạo, hút thai, sót nhau hay thủ thuật trong buồng tử cung; đau bụng theo chu kỳ mà không ra kinh (máu có thể ứ phía trên chỗ dính); sảy thai liên tiếp hoặc IUI/IVF thất bại nhiều lần mà chưa từng nội soi buồng tử cung (sảy thai liên tiếp cần làm xét nghiệm gì).
Đang mang thai sau gỡ dính: báo tiền sử ở lần khám thai đầu; ra máu bất thường ở bất kỳ tuổi thai nào thì tới cơ sở sản khoa ngay.
Mốc chung: 12 tháng cố gắng đều đặn nếu vợ dưới 35, 6 tháng nếu từ 35 (bao lâu chưa có thai thì nên đi khám).
Bắt đầu từ đâu với 9well?
Buồng tử cung do bác sĩ sản phụ khoa hoặc hiếm muộn của người vợ theo dõi và điều trị. 9well đồng hành ở phía còn lại: Him 360° mô thức Cặp đôi giúp người chồng kiểm tra song song, người vợ được mời vào khi người chồng đồng ý, để khi buồng tử cung đã thông thì tinh trùng không thành điểm nghẽn tiếp theo.
Bước đầu là làm Him Test 3 phút, miễn phí: kết quả ra cờ xanh, vàng hoặc đỏ để biết nên tự theo dõi tiếp hay nên gặp bác sĩ. Nếu muốn hỏi thẳng tình huống của hai bạn, nhắn tư vấn qua Messenger 9well. Buổi gặp bác sĩ 30 phút giá 490.000đ, online hoặc trực tiếp, được trừ vào gói khi đăng ký. Không ai hứa trước kết quả; đội ngũ chuyên gia 9well chỉ cam kết đo, ghi số và theo sát.
Câu hỏi thường gặp
Dính buồng tử cung có mang thai tự nhiên được không?
Có thể, nhất là dính nhẹ và sau khi gỡ dính thành công. Phân tích gộp 32 nghiên cứu (2023) cho thấy khoảng 59% phụ nữ có thai sau nội soi gỡ dính và khoảng 45,6% sinh sống. Hướng dẫn AAGL/ESGE cũng ghi nhận chờ đợi không điều trị vẫn có thể có thai nhưng thời gian chờ có thể kéo dài.
Dính nặng còn cơ hội có con không?
Còn, nhưng thấp hơn rõ. Một nghiên cứu 104 phụ nữ ghi nhận có thai ở 20% nhóm nặng so với 81,5% nhóm nhẹ; nghiên cứu khác là 9,5% so với 53,3%. Dính nặng dễ tái dính hơn (khoảng 42% ở độ 5 ESGE) nên thường cần 2–3 lần nội soi và biện pháp chống tái dính.
Sau gỡ dính bao lâu thì thử thai được?
Do bác sĩ quyết định, thường sau lần nội soi kiểm tra lại (vài tuần đến vài tháng sau mổ) cho thấy buồng tử cung thông và kinh đã trở lại. Trong các nghiên cứu, soi kiểm tra lại được làm sau khoảng 8–10 tuần hoặc 3 tháng.
Vì sao gỡ dính rồi vẫn dính lại?
Hai mặt vết thương mới của thành tử cung áp sát nhau trong khi lớp đáy niêm mạc ở vùng đó đã mất, không có mô mới phủ kịp. Tái dính gặp ở 30–66% ca, càng nặng càng dễ: trong 638 phụ nữ ở Hà Lan, 21–25% ở độ 1–2A và 41,9% ở độ 5.
Siêu âm bình thường có loại trừ dính buồng tử cung không?
Không. Siêu âm đầu dò 2D có độ nhạy chỉ khoảng 52%. Siêu âm bơm nước buồng tử cung có giá trị tiên đoán âm cao hơn nhiều (khoảng 98%), còn nội soi buồng tử cung là tiêu chuẩn để kết luận và phân độ.
Mang thai sau gỡ dính có nguy hiểm không?
Phần lớn thai kỳ diễn ra bình thường, nhưng nguy cơ nhau cài răng lược cao hơn dân số chung (khoảng 7–10% theo các tổng quan) và nhau tiền đạo cao hơn khoảng 3 lần. Vì vậy cần báo tiền sử gỡ dính ở lần khám thai đầu để được siêu âm theo dõi nhau và lên kế hoạch sinh.
Chồng có cần khám gì khi vợ bị dính buồng tử cung?
Có. Nên làm tinh dịch đồ theo chuẩn WHO 2021 song song với giai đoạn vợ chẩn đoán, để khi buồng tử cung sẵn sàng thì tinh trùng không thành điểm nghẽn tiếp theo.
Nguồn được dẫn trong bài
- AAGL Advancing Minimally Invasive Gynecology Worldwide — AAGL practice report: practice guidelines on intrauterine adhesions developed in collaboration with the European Society of Gynaecological Endoscopy (ESGE). Gynecol Surg 2017;14:6
- Hanstede MMF, van der Meij E, Goedemans L, Emanuel MH — Results of centralized Asherman surgery, 2003–2013. Fertil Steril 2015;104(6):1561–1568
- Yu D, Li TC, Xia E, Huang X, Liu Y, Peng X — Factors affecting reproductive outcome of hysteroscopic adhesiolysis for Asherman's syndrome. Fertil Steril 2008;89(3):715–722
- Xu W, Xu X, Zhou P, Wu H, Lin X — A meta-analysis of obstetric and neonatal outcomes in patients after treatment of hysteroscopic adhesiolysis. Front Endocrinol 2023;14:1126740
- Dreisler E, Kjer JJ — Asherman's syndrome: current perspectives on diagnosis and management. Int J Womens Health 2019;11:191–198
- Zhao J, Chen Q, Cai D, Duan Z, Li X, Xue X — Dominant factors affecting reproductive outcomes of fertility-desiring young women with intrauterine adhesions. Arch Gynecol Obstet 2017;295(4):923–927
- Xia E, Huang X, Li TC — Pregnancy outcome after intrauterine adhesiolysis (bình luận, trích Guo 2019 và Feng 2020). Ann Transl Med 2020;8(5):154
- Zhao X, Liu Y, Zhang A và cộng sự — Logistic regression analyses of factors affecting fertility of intrauterine adhesions patients. Ann Transl Med 2020;8(4):49
- Bhandari S, Bhave P, Ganguly I, Baxi A, Agarwal P — Reproductive outcome of patients with Asherman's syndrome: a SAIMS experience. J Reprod Infertil 2015;16(4):229–236
Nội dung này mang tính giáo dục, không thay thế thăm khám. 9well không phải cơ sở khám chữa bệnh, không bán thuốc và không nhận tài trợ từ hãng dược hay đơn vị bán thực phẩm chức năng.